Người chồng tráo trở

Năm
1995, chị G. mới 18 tuổi, rời quê Tiền Giang lên TP.HCM học nghề, gặp
anh N.Q.T. Thấy anh có nhà cửa, nghề nghiệp đàng hoàng, nên chỉ bốn
tháng sau khi quen biết, chị đã đồng ý cưới nhưng không đăng ký kết hôn.
Hai đứa con, một trai, một gái lần lượt chào đời. Anh chị chung sống
với vẻ ngoài đầy hạnh phúc: anh đi làm lo kinh tế, chị ở nhà chăm con.
Đến năm 2003, nghe người quen đồn đãi anh T. có vợ khác, chị tìm hiểu và
phát hiện anh T. mới lấy vợ, cưới hỏi và đăng ký kết hôn với người đó
hẳn hòi. Chị khóc: “Tôi truy hỏi, anh thú nhận và cũng “công khai”, nếu
muốn tiếp tục ở trong căn nhà này, muốn nuôi con khôn lớn thì phải chấp
nhận. Vậy là từ đó đến giờ tôi sống trong căn nhà này, do anh bỏ tiền
xây dựng năm 2001. Còn anh và người vợ mới sống chung trong căn nhà mới,
cũng do anh bỏ tiền ra xây năm 2002. Ban đầu, anh ấy chỉ đưa cho tôi
một triệu đồng nuôi con. Sau một năm, anh không trợ cấp thêm đồng nào.

 

Ảnh minh họa

Anh ấy còn trắng trợn lừa dối tôi trong việc khai
sinh cho hai con. Lấy lý do làm việc nhà nước, anh tự đi làm mọi giấy tờ
và cất hết. Mãi đến năm 2003, khi anh cưới vợ, cùng lúc con gái lớn vào
lớp 1, tôi mới tá hỏa vì cả hai giấy khai sinh của con tôi đều có tên
cha, mẹ là em gái và em rể của anh T. Bao nhiêu năm làm vợ anh coi như
chấm hết đã đành, giờ các con tôi cũng không được anh và pháp luật thừa
nhận. Tôi cầu cứu, UBND P.Bình Hưng Hòa đã hướng dẫn tôi làm khai sinh
lại cho con với phần tên mẹ do tôi đứng, phần tên cha để trống. Bảy năm
qua, tôi sống trong lo sợ, không biết lúc nào thì bị anh lấy lại nhà,
đuổi tôi đi nơi khác. Tôi cũng không biết anh có quyền đó hay không? Tôi
có được thay con đòi quyền khai sinh với tên cha hay không? Anh đang là
công chức nhà nước, tôi nghề nghiệp bấp bênh, liệu có ai tin tôi?”.

Luật sư Vũ Thị Hoài Vân – Trưởng văn phòng trợ giúp
pháp lý phụ nữ số 6 phân tích: “Với những thủ đoạn liên tiếp và có bài
bản của anh T., chị G. chỉ còn một cách là phải ra tòa, làm thủ tục xin
xác nhận cha cho con. Quyền xác nhận cha cho con được quy định tại điều
63, 64 Luật Hôn nhân và gia đình (HNGĐ), theo đó, chị G. có quyền làm
đơn yêu cầu tòa án cấp quận, huyện xác định cha cho con. Chị cần cung
cấp các chứng cứ, có thể đề nghị cho giám định gen. Dựa trên các chứng
cứ và kết quả giám định gen, tòa án sẽ phán quyết anh T. có phải là cha
của hai cháu bé hay không. Khi đã có kết quả chứng thực, anh T. phải
thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con theo quy định pháp luật”.

Riêng căn nhà chị đang ở, luật sư Vân cho biết, do
mọi giấy tờ đều thể hiện quyền sở hữu của anh T. nên chị G. không thể
đòi chia tài sản này được.

Chị G. hỏi: “Nhưng làm thế nào tôi có thể xác nhận
cha cho con khi cần đến 20 triệu đồng chi phí trưng cầu giám định gen.
Lỡ anh ta không chịu giám định thì sao?”.

Theo mục b, điều 5 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày
23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số
quy định của Luật HNGĐ thì khi một người có yêu cầu tòa án xác định một
người nào đó là con của họ hay không thì phải có chứng cứ. Trường hợp
cần thiết mới phải giám định gen. Trong trường hợp người cha từ chối
nhận con hay từ chối giám định ADN, tòa có thể tìm những chứng cứ khác
để xác định anh T. là cha hoặc không phải là cha của hai trẻ. Có rất
nhiều chứng cứ cho thấy anh T. có liên quan đến cháu bé, ví dụ như anh
tự mang giấy tờ đi khai sinh, đám cưới của hai người, việc chung sống
cùng chị G. trong một mái nhà khi chị có thai và sinh con và hiện tại là
việc anh T. cho chị G. ở trong căn nhà anh đứng tên sở hữu… Thêm vào đó
là xác nhận của hàng xóm láng giềng, kể cả những tấm ảnh kỷ niệm của
gia đình…

Bà Trần Thị Kim Anh – Phó chủ tịch Hội LHPN Q.Bình
Tân cho biết: “Chúng tôi sẽ cùng Hội LHPN P.Bình Hưng Hòa xác minh lại
sự việc và sẽ có hướng tư vấn cho những khiếu kiện sắp tới của chị G.
Phần chị G., hãy mạnh dạn nộp đơn khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình
và hai con nhỏ”.
 

guest
0 Bình luận
Inline Feedbacks
View all comments